Thanh Thúy – tiếng hát khói hương chiêu niệm – Tân nhạc Việt Nam

0
146


Vào năm 1958 thì phải, tôi biết Thanh Thúy qua tạp san Điện Ảnh của Mai Châu. Vì ở một nơi tỉnh lẻ như tỉnh Vĩnh Long, tôi tiếp xúc với các ca sĩ qua giọng hát của họ trên làn sóng điện đài Sài Gòn và đài Quân Đội hoặc trong các dĩa nhựa như Asia, Việt Nam, Việt Thanh.

Thuở đó, Thanh Thúy chưa cộng tác với đài nào, lại chưa cho giọng hát mình thu thanh dĩa nhựa nên tôi chưa nghe được giọng hát của cô. Tôi chỉ thấy tấm ảnh cô đăng trên bìa tờ điện ảnh, khổ 18×24. Người trong ảnh mặc áo dài xanh, ngước mắt lên, đôi mắt một mí nhưng to, đôi tròng đen trắng phân minh. Nhưng ánh đèn rọi không làm cho mặt cô mịn màng, không làm nổi bật cái cá tính trên khuôn mặt cô nên ảnh cô không đập vào mắt độc giả. Tuy nhiên bài viết về cô rất cảm động. Đọc xong, tôi bàng hoàng thương cảm bà thân mẫu cô. Bà đau ốm liên miên, lại lo âu về việc con gái mình dấn thân vào nghiệp cầm ca. Bà chỉ sợ Thanh Thúy không đủ óc thông minh quyền biến để tránh xa cạm bẫy của ca trường nhạc giới. Mỗi đêm bà chong đèn đợi con về. Hễ Thanh Thúy về hơi trễ là bà sợ cô bị tai nạn.

Thanh Thúy là một nghệ sĩ có tư cách, có phẩm hạnh. Cô không gây một ngộ nhận nào cho nhóm k‎ý giả ưa săn tin giật gân. Cô không gây một “xì-căn-đan” nào để cho báo chí khai thác. Trong hàng ngũ các nữ ca sĩ nổi tiếng thuở xưa chỉ có Lệ Thanh, Thanh Thúy và Hoàng Oanh là nhu mì, khiêm tốn, ngoan hiền và biết tự trọng nhất. Ở trên đỉnh chót vót danh vọng mà cô không hề nói một lời kiêu căng hay một lời làm thương tổn tha nhân, không bôi bẩn kẻ vắng mặt, không khoe khang thành tích của mình khi tiếp xúc với báo chí. Cô có cái thông minh của cô gái sớm mồ côi, có cái uyển chuyển mềm mại của kẻ sớm chạm trán với cuộc đời gai góc, có tư cách cao sang để dọn đường đi lên xã hội thượng lưu.

Lần đầu tiên, vào năm 1959, tôi được xem Thanh Thúy đơn ca trong buổi Đại nhạc hội do ban Thoại kịch Kim Cương trình diễn tại rạp Aristo (đường Lê Lai, Sài Gòn) vào buổi xế. Thanh Thúy xuất hiện với chiếc áo dài trắng bằng lụa mềm mại và chiếc quần sa-teng tuyết nhung trắng. Cô thạo việc hóa trang khuôn mặt, phấn hồng giồi trên má tươi mà không gắt; son môi màu hồng ngọc hơi thắm và chói bóng hơn màu phấn hồng giồi má một chút làm nổi bật hàm răng ngọc trai khi cô cười. Cô tô đậm nét mày uốn viền trăng mỏng, tô viền mắt thật khéo. Khuôn mặt cô đóng khung bằng mái tóc buông lơi, có thả một nhánh mềm mại trước ngực. Tất cả mọi chi tiết trên khuôn mặt cô như nổi bật lên vẻ huyền ảo của sương khói cõi chiêm bao, vẻ thơ mộng của trăng nước trên sông êm đềm. Màu sắc trang điểm của cô ăn ánh đèn một cách lạ lùng. Dáng cô mảnh khảnh nhưng vẫn là dáng dấp nàng thơ. Nét dịu dàng của cô vẫn là nét buông lơi tha thướt của thùy dương và lệ liễu, nét bay của đuôi diều và của tấm nhiễu mỏng màu ngân bạch phất phơ trong nắng dịu gió hiền. Chiếc áo dài trắng của cô làm cho vẻ mặt cô càng thêm phiêu dật.

Khán giả có cảm tưởng đó là cô tiên nga tu luyện ở trên đỉnh Ngũ Nhạc nào đó vừa vứt cặp cánh trắng để biến thành cô ca sĩ đang độ sen ngó đào tơ ghé tại hí trường, dùng giọng khàn khàn để hát bản “Chờ Anh Bên Đồi” của Xuân Tiên. Bản này hầu như không có chỗ xuống trầm để Thanh Thúy biểu diễn giọng trầm và dội sâu của mình. Cô chỉ có thể biểu diễn cái bẻ quặt giọng hát khi lên chỗ hơi cao để giọng hát sắc vút lên một cách thống thiết. Khi bài hát chấm dứt, tiếng cổ võ dấy động lên như muốn bể rạp. Khán giả nồng nhiệt chào đón một giọng hát từ phòng trà Anh Vũ chật hẹp bay ra hí viện lớn như một nhánh sông nhỏ đổ ra biển khơi, như con sâu cắn ổ chui ra ngoài để thành bướm bay vào vườn đầy nghìn tía muôn hồng náo nhiệt. Thanh Thúy đáp lại tấm thịnh tình khán thính giả bằng bài “Nhạt Nắng” của Xuân Lôi.

Bài này có vài chỗ xuống trầm để cô biểu diễn giọng alto (bán trầm) ấm áp và rền rền. Khi xuống trầm, giọng cô như từ chiếc bánh bèo xứ Huế mỏng dính và mát rượi được căng phồng sinh lực để hóa thân thành cái bánh ít trần miền Nam dầy cộm. Đã vậy, âm sắc của giọng qu‎‎‎ý báu kia thật nồng nàn, thật thấm đượm. Bài “Nhạt Nắng” cũng có chỗ khá cao để cô bẻ giọng làm phù thủy âm thanh, để diễn tả nỗi đau đớn đến quằn quại như tích lũy từ bao đời tận đáy tâm khảm của cô. Chỗ xuống trầm là chỗ hát chân truyền, còn chỗ bẻ giọng là chỗ quái chiêu. Khán thính giả bị thôi miên bởi những chỗ quái chiêu đó, tức là những cái fantaisies kỳ lạ do cô sáng tạo để lối trình diễn của mình trở nên độc đáo, nổi bật hơn lối trình diễn của các ca sĩ thời danh trước cô và đồng thời với cô.

Nhà thơ lớn của chúng ta là Hoàng Trúc Ly đã cảm khái về nhân dáng và về tiếng hát của Thanh Thúy qua những câu thơ lục bát như sau:

Sầu Ca Sĩ

từ em tiếng hát lên trời
tay xao dòng tóc, tay vời âm thanh
sợi buồn chẻ xuống lòng anh
lắng nghe da thịt tan tành xưa sau

trời em tiếng hát lên từ
âm ba tóc rối lững lờ vòng tay
áo dài lùa nắng vào mây
dấu chân hồng nhạn rụng đầy gió sương

Tôi biết lắm, một khi tiếng hát Thanh Thúy bay vào môi trường hoạt động lớn, sẽ bước một cách chững chạc và vững vàng vào con đường vinh quang dành cho cô, sẽ có cây thang mầu nhiệm để cô leo tới tuyệt đỉnh danh vọng. Biết bao là Đại nhạc hội mời cô đóng góp tiết mục đơn ca. Các hãng dĩa tranh nhau mời cô thu thanh. Cô cùng Lệ Thanh, Duy Khánh làm mờ đi những tên tuổi đi trước họ như cặp song ca Ngọc Cẩm & Nguyễn Hữu Thiết, các nữ danh ca Thái Thanh, Ánh Tuyết và Thúy Nga.

Vào những năm đầu của thập niên 60, Thanh Thúy dù có vóc gầy nhưng đây là thứ gầy thơ gầy mộng trong khi đó Thái Thanh béo đẹp béo tươi. Dáng đi của cô mềm mại và uyển chuyển, cử chỉ cô nhẹ nhàng, cung cách cô dịu dàng qu‎ý phái. Khuôn mặt cô thanh khiết, sống mũi cô thanh tú, cặp môi cô tươi ơi là tươi thường phớt nhẹ nét mỉm cười đoan trang thùy mị. Và khi cô cười rộng miệng thì nụ cười sáng rực lên mà không lẳng, đẹp gấp ba bốn lần nét mỉm cười. Sống mũi và môi khép miệng cười kia là hai điểm trội của tướng số. Cặp mắt cô hiền lành, cái nhìn trong trẻo, nhưng đây là cặp mắt thông minh hòa điệu với vầng trán băng sương, cao khiết và sáng nhuận của cô.

Thanh Thúy là người có tiết độ trong cách ăn mặc. Ngoài màu trắng ra, cô lựa những màu áo tươi sáng mà không lẳng lộ lẳng ngầm, tươi một cách trinh khiết: hồng đan (hồng pha xám), thanh tùng (xanh nhạt ửng ánh bạc), thúy liễu (lục phớt ánh ngân nhũ), màu beige, màu bánh biscuit đậm hơn màu beige rất ấm áp. Lại còn màu tím ngọt mắt của xôi lá cẩm, màu hổ phách nâu dịu ửng ánh vàng, màu cam pha xám như màu gạch ngói mới nữa chi. Hoa in trên áo luôn nhã đậm, không chói rực phô trương mà cũng không tái ngắt lu câm. Cách phục sức đó để cô có thể dùng ngoài khung cảnh sàn gỗ màn nhung, có thể để cô đi bát phố mà chẳng làm ai chướng mắt. Mái tóc cô không uốn kiểu mới nhất của thời trang thuở đó; nó mềm mại xõa xuống vai cô, cô còn thả một nhánh nhỏ trước ngực để cho các nhà báo tặng cho nó một cái tên rất thơ: “mái tóc Liêu Trai”. Mái tóc đó cùng dáng dấp đài các, cùng chiếc áo dài trắng mặc thường xuyên và tiếng hát trầm thống kia tạo cho cô vẻ huyền hoặc như dáng khói hình sương dưới ánh đèn rọi.

Thật ra, mái tóc và giọng hát não nùng kia là do Thanh Thúy tạo ra, chứ không phải do bẩm sinh mà cô có. Còn những qu‎ý tướng ở sống mũi và ở môi khép miệng cười mới chính là những cái bẩm sinh của cô, những cái mà đấng Tạo Hóa ban cho cô. Mái tóc và giọng hát gợi nên hình ảnh não nùng và giọng ngâm thơ thống thiết của các nhân vật gái ma trong truyện “Liêu Trai Chí Dị” của Bồ Tùng Linh không làm cho cô yểu mệnh được vì đó là những cái giả, có thể sửa đổi hay gia giảm được. Còn những qu‎ý tướng kia là những cái thật, cái trường tồn bất biến cho chúng ta biết rằng cô có danh vọng, có cuộc đời bình thường dù nổi sóng gió chăng nữa thì cũng chỉ là thứ sóng gió trong ly nước.

Mới nhìn qua Thanh Thúy trên sân khấu, tiếng hát quằn quại và trầm thống của cô làm chúng ta nghĩ đến hình ảnh những mỹ nhân đa sầu đa cảm và phải yểu mệnh giữa tuổi thanh xuân qua nhân vật Lâm Đại Ngọc trong “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần hay qua Phùng Hồng Ngọc trong “Kinh Hoa Yên Vân” của Lâm Ngữ Đường. Nhưng thật ra Thanh Thúy là cái đối chọi của hai nhân vật nọ. Cô có tình l‎ý đồng cân, có cái dịu hiền phúc hậu gợi nên các nữ nhân vật L‎‎ý Hoàn, Giả Thám Xuân trong “Hồng Lâu Mộng”, gợi nên Diêu Mộc Lan và Diêu Mặc Sầu trong “Kinh Hoa Yên Vân”, những nhân vật ấy có hậu vận tốt.

Tiếng hát Thanh Thúy khàn đục ở những chỗ ngang ngang và ở những chỗ xuống trầm. Khi lên cao, cô không rống để giữ nguyên vẹn âm lượng. Cô tét qua giọng ẻo lả ỏn thót để tạo một thứ tiếng thống thiết, để diễn tả tâm trạng đau khổ đến cực độ. Và ở chỗ ngang ngang cô cũng làm cho rạn nứt để khán thính giả có cảm tưởng mỗi khe nứt rướm máu, rướm nước mắt. Cô cố tình nhuộm âm sắc của giọng hát cô một màu đen đậm.

Thanh Thúy dàn trải làn hơi không đều, cho nên câu hát không dịu muốt như tháp bút. Nhưng khán thính giả bị lối trình bày uốn éo, xoáy quặn của cô kích thích và thôi miên vào cơn đồng thiếp nên họ quên mất cái điểm then chốt đó. Cô là một nhà ảo thuật âm thanh. Cô giỡn vọc âm thanh, vẻ vặn tiết điệu, bỏ đứt nền nếp chân truyền trong lối hát. Chính ở cách phá thể, ở những quái chiêu táo bạo đó cô thành công rực rỡ. Chuỗi ngân của Thanh Thúy không đều, không gợn những nét mềm dịu. Nhưng khán thính giả cũng đâu cần điều ấy. Bắt đầu qua thập niên 60, đã có những Phương Dung, Thanh Tuyền và sau nữa là Phương Hồng Quế, Trang Thanh Lan, Giáng Thu nào có ai biết ngân nga mà vẫn nổi tiếng như cồn đó sao? Thanh Thúy dù ngân nga không vững lắm, nhưng còn biết kéo dài trường độ một nốt nhạc để có những lượn sóng hiện ra dù ít, dù hơi thô rít đi nữa.

Hai bản nhạc của Trúc Phương là “Nửa Đêm Ngoài Phố” và “Tàu Đêm Năm Cũ” chỉ được Thanh Thúy hát vài lần là nổi tiếng. Vào các thập niên 50, 60, 70, những bài hát theo thể điệu bolero của những nhạc sĩ thời danh như Song Ngọc, Minh Kỳ, Lê Dinh, Anh Bằng, Hoài Linh, Anh Việt Thu do cô diễn tả bằng cách tô đậm sắc thái, bằng cách phá thể đều được khán thính giả đón nhận nồng nhiệt say sưa. Ngoài ra những nhạc phẩm có giá trị như của Phạm Duy, Nguyễn Hiền, Lê Mộng Nguyên, Hoàng Trọng cũng được cô trình bày với phong cách gừng cay muối mặn, cũng được hoan nghinh không kém. Cho nên liên tiếp ba năm, trong cuộc trưng cầu ‎ý kiến khán thính giả bốn phương do nhật báo Trắng Đen tổ chức, cô là một nữ ca sĩ ăn khách nhất.

Ở Thanh Thúy có hai cái đối nghịch: ở ngoài đời cô là một phụ nữ ôn hòa, ngoan hiền, mẫu mực, nhưng trong lãnh vực ca hát, cô mạnh dạn đạp đổ khuôn vàng thước ngọc, lao tới cách hát táo bạo do chính cô khám phá. Chính nhờ cái liều lĩnh lẫn thần trí sáng tạo bén nhạy đó, cô thành công lớn và trở thành một ngôi tinh đẩu sáng nhất trong dải Ngân Hà.

Khi ra hải ngoại, Thanh Thúy vẫn hoạt động đều đặn, quyết sống chết với nghề. Cô đi lưu diễn khắp các tiểu bang Hoa Kỳ có đông kiều bào. Cô lưu diễn ở hầu hết các nước Âu Châu và rất nhiều thành phố bên Úc. Bởi thấy mình còn ăn khách nên cô lập hãng sản xuất băng nhạc ưu tiên cho tiếng hát của cô.

Ở hải ngoại, trong cuốn băng hình Asia Video 10 với chủ đề “Gởi Người Một Niềm Vui”, tôi được xem Thanh Thúy hát ca khúc “Nửa Đêm Ngoài Phố” của Trúc Phương. Trên màn ảnh nhỏ, cô xuất hiện với mái tóc rất hợp thời trang, quăn queo như từng chùm rau diếp quắn. Khuôn mặt cô đầy đặn, màu trang điểm vừa phải. Cô kẻ môi trên bằng viền đen rồi mới tô son màu hồng quế thật dầy trong viền để môi được gợi cảm hơn. Cô mặc chiếc áo dài mỏng màu đen nổi những tảng vảy rắn màu sáng bạc lấp lánh. Cô vẫn còn đẹp phúc hậu, nhưng cô hát đơn giản hơn ngày xưa, hồi còn ở Sài Gòn.

Tiếng hát của cô tự bản chất là tiếng hát đẹp và thập phần gợi cảm. Cô giảm bớt cường điệu, giảm những đợt rú, những đợt quằn quại khá nhiều. Và từ đó, tiếng hát cô rạng ngời tình cảm chân thành và đôn hậu. Tôi có cảm tưởng cô đã tự dẹp gai góc, cỏ tranh để cho khách vãn cảnh tìm gặp một bông hoa đẹp nồng mặn và qu‎ý báu được tượng trưng bằng tiếng hát cô. Và xuyên qua tiếng hát ấy, chúng ta như đứng trước một ngôi đền thánh giờ đã phủ rêu xanh, mà từng cây cột, viên gạch, miếng ngói luôn thấp thoáng bóng dáng quá khứ huy hoàng. Du khách có thể đến đó viếng cảnh và thắp nén tâm hương để chiêu niệm lại những thời đại cũ, những chặng lịch sử của vùng đất chung quanh điện đã hút bóng trong k‎ý ức của kẻ đương thời.

Riêng tiếng hát bất hủ của Thanh Thúy đã có một ngôi đền Vinh Quang khi cô chưa ra hải ngoại. Ngôi đền ấy còn tàng trữ thêm tuổi xuân diễm ảo cùng vẻ đẹp huyền ảo của cô. Cho nên khi ở nước ngoài, mỗi khi hát những bài cũ đã từng làm tên tuổi cô nổi như cồn chẳng hạn bài “Nửa Đêm Ngoài Phố”, “Tàu Đêm Năm Cũ” của Trúc Phương và “Phố Buồn” của Phạm Duy thì cô tránh sao khỏi sắt se ngậm ngùi?

Cho nên tôi nghĩ rằng dù có rú, có quằn quại chăng nữa, cô vẫn thành thật đau buồn, vẫn thành thật tiếc thương cái quá khứ lộng lẫy vàng son trên đất nước quê nhà. Giờ đây, tiếng hát cô vẫn còn ngự trị trong lòng những kiều bào đã từng ái mộ thuở xưa, dù nó vẫn còn giữ được cái ngôi đền thiêng liêng mà họ đã từng thờ phụng, nhưng chắc chắn nó đã mất cái thiên đường quen thuộc và thân ái cũ.

Bài viết của nhà văn Hồ Trường An (Theo chân những tiếng hát)

Trả lời

Nhập nội dung bình luận
Nhập tên của bạn