Nguồn gốc khi đặt nghệ danh của Chế Linh, Thanh Tuyền, Duy Khánh… – Tân nhạc Việt Nam

0
174


Không như các ca sĩ Phương Dung, Thanh Thúy sử dụng tên thật làm nghệ danh, nhiều ca sĩ nổi tiếng như Thanh Tuyền, Hoàng Oanh, Nhật Trường, Chế Linh, Duy Khánh, Khánh Ly… sử dụng một nghệ danh khác với tên thật. Bài viết này sẽ tìm hiểu nguồn gốc của các nghệ danh nổi tiếng của nhạc vàng.

Ca sĩ Phương Dung tên thật là Nguyễn Phan Phương Dung. Ca sĩ Thanh Thúy tên thật là Nguyễn Thị Thanh Thúy, còn các ca sĩ khác có tên thật như sau:

Ca sĩ Thanh Tuyền: Tên thật là Phạm Như Mai. Nghệ danh Thanh Tuyền được người thầy của cô là nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông chọn. Nghệ danh ấy ra đời với ý nghĩa: “Thanh” là xanh mát, “Tuyền” là suối. Thanh Tuyền có nghĩa là dòng suối xanh mát từ cao nguyên, mang đậm phong cảnh hữu tình có suối, thác, thông reo ở Đà Lạt – mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” của cô.

Ca sĩ Khánh Ly: Tên thật là Nguyễn Thị Lệ Mai. Cô từng trả lời trong một bài phỏng vấn, cô lấy tên Khánh Ly làm nghệ danh chỉ là một sự tình cờ. Trong tuyện Đông Chu Liệt Quốc có hai nhân vật Yêu Ly và Khánh Kỵ. Họ là hai người anh hùng kiểu Lương Sơn Bạc, trả thù cho chủ và chịu chết. Bà thấy hai nhân vật đó “đẹp” quá, sống có tình có nghĩa, thủy chung cho tới lúc chết, nên thích và kết hợp hai tên đó thành nghệ danh.

Ca sĩ Duy Khánh: Tên thật là Nguyễn Văn Diệp. Khi mới đi hát, ca – nhạc sĩ huyền thoại này lấy nghệ danh ban đầu là Hoàng Thanh. Ông trở thành một trong ba giọng nam được yêu thích nhất, cùng với Duy Trác, Anh Ngọc. Thời kỳ này tên tuổi của ông gắn liền với những bài có âm hưởng dân ca và “dân ca mới” của Phạm Duy: Vợ chồng quê, Ngày trở về, Nhớ người thương binh, Tình nghèo, Quê nghèo, Về miền trung... Ông đã đổi nghệ danh thành Duy Khánh. Chữ “Duy” trong Phạm Duy, còn “Khánh” là tên một người bạn thân của ông.

Ca sĩ Chế Linh: Ông là ca sĩ gốc Chăm, tên thật là Trà-len (Jamlen). Các vị vua Chăm có họ là Chế, nên đây cũng là họ phổ biến của người Chăm. Ví dụ như vị vua nổi tiếng nhất của Chăm Pa là Che Bunga (Chế Bồng Nga). Chế Linh lấy họ Chế ghép với chữ Linh trong tên Jamlen của mình để làm nghệ danh Chế Linh.

Ngoài ra, khi sáng tác nhạc, Chế Linh lấy bút danh là Tú Nhi. Theo lời giải thích của ông, Tú Nhi có nghĩa là em bé (nhi) khôi ngô, tuấn tú. Chế Linh cho biết khi chọn bút danh này và cho đến tận bây giờ, ông vẫn luôn mong muốn mình hồn nhiên như một đứa bé thơ.

Ca sĩ Hương Lan: Tên thật là Trần Ngọc Ánh. Hương Lan đã đi hát cải lương từ rất nhỏ. Thuở đó đã có một nghệ dĩ cải lương tên là Ngọc Ánh, nên thân phụ cô là nghệ sĩ Hữu Phước muốn đặt tên khác. Sau hội ý với thi sĩ Kiên Giang – Hà Huy Hà, Hữu Phước đã đặt nghệ danh cho con gái là Hương Lan, với nguyên nhân như chính Hương Lan kể như sau:

Ông Kiên Giang hỏi Hữu Phước:
– Trong nghệ sĩ mày thích người nào nhất? (Thi sĩ Kiên Giang lớn hơn nghệ sĩ Hữu Phước 3 tuổi)
Hữu Phước trả lời:
– Dạ, em thích Út Bạch Lan với Thanh Hương
Kiên Giang bảo:
– Tao lấy tên 2 người này tao đặt nghệ danh cho con mày!

Như vậy, Hương Lan là ghép từ Thanh Hương và Út Bạch Lan

Ca sĩ Thiên Trang: Tên thật là Huỳnh Thị Hai. Khi lớn và đi học hát, thầy dạy hát đặt cho cô nghệ danh là Thiên Trang, với ý nghĩa là Hoa Trang trên trời.

Ca sĩ Giao Linh: Tên thật là Đỗ Thị Sinh. Cô từng nói về nghệ danh của mình như sau: Năm 1965, một người bạn rất thân đã nói với tôi: “Nếu có đi hát hãy lấy tên Giao Linh, nghệ danh này sẽ gặp nhiều may mắn đấy”. Giao Linh có nghĩa là gì, chắc chỉ có người bạn đó của ca sĩ Giao Linh mới có thể giải nghĩa được.

Ca sĩ Nhật Trường: Tên thật là Trần Thiện Thanh. Ông đã lấy tên thật để làm bút danh sáng tác. Còn khi đi hát, ông lấy tên Nhật Trường.

Có lần Trần Thiện Thanh được hỏi vì sao ông chọn tên Nhật Trường. Ông trả lời: “Hồi nhỏ tôi thích ca hát lắm nhưng bố mẹ tôi không cho. Thế là tôi phải chờ đến ban đêm đợi bố mẹ đi ngủ rồi mới dám hát. Nhiều khi ban ngày thèm hát quá mà phải đợi đến tối, thấy ngày sao dài ghê nên tôi chọn tên Nhật Trường, có nghĩa là… ngày dài.”

Ca sĩ Hoàng Oanh: Tên thật là Huỳnh Kim Chi. Thuở mới đi hát ở Ban Nhi Đồng của Đài Pháp Á lúc mới 6 tuổi, cô lấy tên thật là Kim Chi. Năm 12 tuổi, ca sĩ Kim Chi gia nhập Ban Thiếu Nhi của Đài Quân Đội, do trùng tên với nghệ sĩ Kim Chi nên cô đổi nghệ danh thành Hoàng Oanh.

Cô cho biết, nghệ danh Hoàng Oanh được thân phụ đặt cho cô bắt nguồn từ lời hát Bản Đàn Xuân của nhạc sĩ Lê Thương: “Chờ tin thơ chim Hoàng Oanh đưa, còn xa bay trong áng sương mờ…”

Ca sĩ Họa Mi: Tên thật là Trương Thị Mỹ. Lúc đầu khi hát ở đài truyền hình, cô biến tấu từ tên thật để thành nghệ danh là Trường My.

Họa Mi học trường âm nhạc đến năm thứ ba thì nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đề nghị lăng-xê cô thành ca sĩ chuyên nghiệp. Hai tuần sau đó, cô lần đầu tiên lên sân khấu nhà hàng Maxim’s với nhạc phẩm “Đưa em xuống thuyền” của Hoàng Thi Thơ. Chính tại sân khấu này, cái tên “Họa Mi” đã ra đời. Cô kể lại: bản chương trình ở Maxim’s ghi tên ca sĩ là Họa Mi, khiến cô thắc mắc liệu có phải là nhầm lẫn. Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đáp lại: “Bắt đầu từ hôm nay, cháu là Họa Mi chứ không phải là Trường My nữa”. Sở dĩ như vậy là vì Hoàng Thi Thơ muốn đào tạo một số ca sĩ với nghệ danh toàn các loài chim quý, bắt đầu là từ ca sĩ Sơn Ca.

Ca sĩ Sơn Ca: Tên thật là Nguyễn Thị Tuyết Nga. Nghệ danh Sơn Ca là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đặt cho cô. Sơn Ca và Họa Mi là hai học trò nổi tiếng của nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ. Như đã nói bên trên, Hoàng Thi Thơ muốn đào tạo các ca sĩ với nghệ danh toàn các loài chim quý, trong đó có hai loài chim nổi tiếng hót hay là Họa Mi và Sơn Ca.

Ca sĩ Trang Mỹ Dung: Tên thật là Trương Thị Mỹ Dung. Lúc ca sĩ Trang Mỹ Dung trở thành học trò của nhóm Lê Minh Bằng, nhạc sĩ Anh Bằng đã đề nghị đặt nghệ danh là Trang Mỹ Dung. Lúc đó chữ Trang (trang vở) cũng có nghĩa là Trương. Ví dụ vở 50 Trang cũng có nghĩa là vở 50 Trương, nên chữ Trang trong nghệ danh Trang Mỹ Dung thật ra lấy từ tên thật Trương Thị Mỹ Dung của cô.

Kết quả hình ảnh cho Ca sĩ Hà Thanh

Ca sĩ Hà Thanh: Tên thật là Trần Thị Lục Hà. Năm 1953, cô đoạt giải nhất trong một cuộc thi tuyển lựa giọng ca do Đài phát thanh Huế tổ chức với nhạc phẩm Dòng Sông Xanh của Johann Strauss, lời Việt của Phạm Duy. Cũng vì lý do đó cô lấy cho mình nghệ danh Hà Thanh (tức Dòng Sông Xanh). Có ý kiến khác cho rằng Hà Thanh nghĩa là “tiếng hát của Hà”.

Ca sĩ Tuấn Vũ: Tên thật là Nguyễn Văn Tài. Nghệ danh Tuấn Vũ được ghép từ tên của hai người cháu của anh (Tuấn vfa Vũ)

Những nàng ca sĩ tên Phương: Phương Hồng Ngọc, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế, Phương Hồng Hạnh…: Nhạc sĩ Nguyễn Đức mở lớp đào tạo ca sĩ, thường gọi là “lò Việt Nhi”), đã đào tạo nhiều nữ ca sĩ xinh đẹp cho làng nhạc miền Nam trước năm 1975. Đặc biệt, như để tạo dấu ấn, rất nhiều tên của các nữ ca sĩ trong ban Việt Nhi đều được nhạc sĩ Nguyễn Đức đặt tên bắt đầu bằng chữ Phương.

Đông Kha

Trả lời

Nhập nội dung bình luận
Nhập tên của bạn