Ai còn ai mất ? – Tân nhạc Việt Nam

0
77


(Bài của Trường Kỳ viết 2005)

Trong những ngày cuối tháng 4 năm 75, rất nhiều tin đồn được tung ra về sự mất còn của giới nghệ sĩ trong tình trạng rối loạn của Sài Gòn. Người nào còn ở lại, người nào quyết định ra đi. Người nào bị bắt, người nào đi thoát. Trong cảnh hỗn độn và náo loạn đó, những tin đồn trên đã gây hoang mang không ít nơi những người yêu nhạc đối với những tiếng hát trước đó từng mang đến cho họ những giây phút thoải mái về tinh thần. Tin đồn gây xúc động nhất là tin Khánh Ly đã bỏ xác trên biển Đông khi tìm đường vượt biên, trong khi xác Elvis Phương trôi dạt vào bãi biển Vũng Tầu…

Bây giờ đã đúng 30 năm, tình trạng của những nghệ sĩ đó ra sao, hoạt động của họ như thế nào hẳn mọi người đều biết. Sau 30 năm kể từ khi đợt đầu tiên những nghệ sĩ  rời Việt Nam ra đi, nay là thời điểm thích hợp nhất để kiểm điểm lại thành phần nghệ sĩ tại hải ngoại trong suốt 30 năm qua. Đó là quãng thời gian dài đối với những người cùng nhau kết hợp lại thành một lực lượng nghệ sĩ đông đảo tại hải ngoại để phục vụ người yêu nhạc sống đời ly hương. Cũng trong 30 năm đó đã có thêm một thế hệ nghệ sĩ trẻ xuất hiện để đóng góp vào một lực lượng hùng hậu sẵn có tại hải ngoại, cùng với những nghệ sĩ ra đi những năm sau biến cố tháng Tư năm 75. Ngoài ra cũng đã có một số nghệ sĩ đã quyết định giã từ sân khấu để trở về với đời sống bình thường. Loạt bài dài nhiều kỳ này nhắm vào những nghệ sĩ hải ngoại đã vĩnh viễn xa rời chúng ta trong khoảng 30 năm nay. Thêm vào đó là sự ra đi của những nghệ sĩ quen thuộc trước 75 còn ở lại quê hương sau biến cố tháng 4, cùng một số nghệ sĩ lão thành có nhiều ảnh hưởng đến sinh hoạt ca nhạc Việt Nam nói chung. Và đó cũng là dịp để những người yêu nhạc, yêu mến nghệ sĩ tưởng nhớ về những người đã góp phần vào việc xây dựng nền âm nhạc Việt Nam… Trước hết là một số nam nữ ca sĩ đã vĩnh viễn xa lìa cuộc sống trong vòng 30 năm qua.

· NGỌC LAN

Sự ra đi gây nhiều xúc động nhất trong giới nghệ sĩ tại hải ngoại là sự ra đi của nữ ca sĩ Ngọc Lan. Cô trút hơi thở cuối cùng vào hồi 8 giờ 25 sáng ngày 06 tháng 03 năm 2001 tại bệnh viện Vencor, Huntington Beach ( nam California).

Hàng ngàn người đã đến viếng thăm linh cữu Ngọc Lan  tại nhà quàn Dilday Brother ở Huntington Beach trong hai ngày 8 và 9 tháng 03 năm 2001. Số người dự tang lễ của cô tại Thánh Đường Thánh Linh ở Fountain Valley vào hồi 1ù0 giờ sáng ngày 10 tháng 03 năm 2001 cũng chật ních đối với sức chứa gần 1000 người.  Trong khi những người đứng ở ngoài cũng lên tới con số tương đương như vậy. Sau đó trên 2000 người đã tiễn đưa cô đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang Chúa Chiên Lành ở Huntington Beach khi tang lễ hoàn tất..

Ngọc Lan đã qua đời vì một căn bệnh hiểm nghèo đã hành hạ cô trong suốt một thời gian dài.  Căn bệnh của cô được giới chuyên khoa gọi là chứng “đa thần kinh hóa sợi”
Ngọc Lan tên thật là Lê Thanh Lan, sinh ngày 28 tháng 12 năm 1956 tại Nha Trang và là người con thứ năm trong số 8 người con trong một gia đình khá giả..   Ngọc Lan  là một giọng ca thành danh tại hải ngoại vào đầu thập niên 90, kể từ khi cộng tác với trung tâm “Mây” trên những chương trình video “Hollywood Nights”. Tên tuổi Ngọc Lan đã hoàn toàn chinh phục được cảm tình của mọi người, sau khi trung tâm “Mây” thực hiện riêng cho cô hai chương trình video đặc biệt dưới quyền đạo diễn của Đặng trần Thức la “Như Em Đã Yêu Anh” và “Mặt Trời Bên Kia Mùa Hạ”.

· SĨ PHÚ

Nam ca sĩ hào hoa, từng là thần tượng của phái nữ một thời tại Sài Gòn cũng đã ra đi vào lúc 0 giờ 55 phút ngày 19 tháng 07 năm 2000 tại bệnh viện UCI, nam California do ung thư phổi, được phát hiện từ tháng 4 năm 1999. .Lễ an táng anh được cử hành ngày 26 tháng 07 năm 2000 tại nghĩa trang Peek Family tại thành phố Westminster.

Ba tuần trước đó, Sĩ Phú đã cho ra mắt CD cuối cùng của mình là ” Còn Chút Gì Để Nhớ ” tại vũ trường Majestic, ở nam California.  Hình ảnh đáng ghi nhớ nhất trong buổi ra mắt này là hình ảnh của một Sĩ Phú ngồi trên xe lăn, được bạn bè dìu lên sân khấu trình bầy nhạc phẩm ” Còn Chút Gì Để Nhớ ” với sự phụ họa của toàn thể anh chị em nghệ sĩ

Sĩ Phú tên thật là Nguyễn Sĩ Phú, sinh ngày 09 tháng 01 năm 1942 tại Bonneng Thakhet, Lào. Anh gia nhập làng tân nhạc vào năm 1968,ø khi cất tiếng hát nhạc phẩm đầu tiên trên đài truyền hình Sài Gòn trong dịp kỷ niệm ngày thành lập binh chủng Không Quân Việt Nam.  Chỉ một thời gian ngắn sau , anh  trở thành nổi tiếng với những nhạc phẩm tình  cảm lãng mạn, trong số có những nhạc phẩm tiền chiến như : Tà Aùo Xanh, Trở Về Bến Mơ, Em Tôi, Hoài Cảm, Cô Láng Giềng, vv…Người nam ca sĩ kiêm thiếu tá không quân này rất ít xuất hiện trên sân khấu nhạc hội hoặc vũ trường ở Sài Gòn. Tuy nhiên anh hát rất nhiều trong những chương trình ca nhạc tổ chức tại Câu Lạc Bộ Không Quân trong phi trường Tân Sơn Nhất. Sĩ Phú rời Việt Nam năm 75. Qua hải ngoại tiếng hát của anh vẫn là một giọng ca thu hút cảm tình của thính giả trong những năm đầu. Nhưng sau đó gần như anh đã ngưng hẳn hoạt động về nghệ thuật trong suốt một thời gian gần 10 năm để tái xuất hiện trên một chương trình do trung tâm Trường Thanh thực hiện vào năm 95.

· THÁI HẰNG

Cũng do ung thư phổi, một trong những tiếng hát kỳ cựu của nền tân nhạc Việt Nam là Thái Hằng – nhũ danh Phạm Thị Thái Hằng – cũng đã từ giã cõi đời vào hồi 05 giờ 30 sáng ngày 14 tháng 8 năm 1999 tại tư gia ở Midway City, nam California hưởng thọ 73 tuổi. Lễ an táng nữ danh ca Thái Hằng diễn ravào ngày vào sáng thứ Bẩy 21 tháng 8.99 tại nghĩa trang Peek Family Funeral Home ở thành phố Westminster theo nghi lễ Phật Giáo. Bà là vợ của nhạc sĩ  Phạm Duy, được ông gọi là “thần hộ mạng” và là “bà chúa ngục” của mình. Mặc dù đã ngưng hoạt độngtừ lâu trước khi qua đời, nhưng không ai có thể quên được sự đóng góp lớn lao của bà cho nền tân nhạc Việt Nam, kể từ bà bắt đầu cất tiếng hát vào cuối thập niên 40, nhất là từ khi là thành viên của ban hợp ca Thăng Long.

· HOÀI TRUNG

Ba năm sau khi danh ca Thái Hằng qua đời, một thành viên khác của ban hợp ca Thăng Long là Hoài Trung cũng đã vĩnh viễn ra đi vào ngày 27 tháng 07 năm 2002 tại thành phố West Covina, nam California. Ông hưởng thọ 83 tuổi, để lại vợ và 4 người con. Nghi thức hoả thiêu Hoài Trung được tổ chức vào ngày 06 tháng 08 năm 2002 tại nghĩa trang Rose Hills trong khuôn khổ gia đình.

Hoài Trung Phạm Đình Viêm sinh ngày 20 tháng 07 năm 1920 tại Bạch Mai, Hà Nội. Ông là em củaông Phạm Đình Sỹ, thân phụ của nữ ca sĩ Mai Hương và là anh của các nghệ sĩ tên tuổi  Thái Hằng, Hoài Bắc Phạm Đình Chương và Thái Thanh, là những người đã cùng với ông gầy dựng nên ban hợp ca Thăng Long, lẫy lừng với những ca khúc như Ngựa Phi Đường Xa, Tiếng Dân Chài, Hội Trùng Dương, Ô Mê Ly, vv…
Năm 1975, ông sang Hoa Kỳ, cư ngụ tại Pasadena và vào năm 79, ông  lập lại ban hợp ca Thăng Long hải ngoại cùng với Hoài Bắc và Mai hương.

· ANH TÚ

Nam ca sĩ Anh Tú chính thức bước sang một thế giới khác kể từ 8 giờ 30 tối thứ  Tư 03 tháng 12 năm 2003 tại bệnh viện UCI ở nam California.  Các y sĩ điều trị ở đây cho biết não bộ của người em trai của nam ca sĩ Tuấn Ngọc và là anh của Khánh Hà và những ca sĩ trong ban nhạc The Uptight đã bị tê liệt. Anh Tú tên thật là Lã Anh Tú, sinh tại Đà Lạt vào năm 50, ngoài phần trình bầy những nhạc phẩm ngoại quốc êm dịu, còn có nghệ thuật diễn tả rất vững vàng và truyền cảm những nhạc phẩm tình cảm Việt Nam. Anh Tú đến với ca nhạc vào năm 69. Đến năm 70 cùng với hai em là Khánh Hà và Thúy Anh gia nhập ban nhạc The Blue Jets. Qua đến năm 72, ban nhạc Uptight được thành lập. Năm 75, anh sang Mỹ để một thời gian sau cùng các em và các bạn tái thành lập  ban Uptight và  anh đã gắn bó với ban nhạc này suốt từ ngày đó cho đến năm 93.  Sau đó Anh Tú đã quyết định tìm cho mình một hướng đi riêng rẽ với tư cách là một ca sĩ độc lập.

· MỸ THỂ

Nếu đề cập đến tiếng hát trình bầy rất đạt nhạc phẩm “ Ai Lên Xứ Hoa Đào “ của Hoàng Nguyên hoặc “ Đường Xưa Lối Cũ “ của Hoàng Thi Thơ thì chắc chắn người yêu nhạc sẽ nhắc tới Mỹ Thể, một tên tuổi từng có một thời được biết tới nhiều.  Đã từ rất lâu cho đến khi qua đời vì trọng bệnh, người ta ít có dịp được nghe nhắc nhở đến người nữ ca sĩ dễ mến này đã đi hát từ năm 63 này, vì chị đã thu gọn cuộc sống của vào trong phạm vì gia đình.

Đến tháng 3 năm 80, Mỹ Thể một mình vượt biển trót lọt đến Thái Lan để 5 tháng sau được xum họp với gia đình, gồm mẹ và các con sang Hoa Kỳ từ trước.  Năm 89, Mỹ Thể từ giã California sang Pháp sau khi lập gia đình lần thứ hai.  Người chồng đầu tiên có 4 người con với chị là nhạc sĩ Nguyễn Hữu Sáng, em ruột của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Thiết. Từ năm 89 đến năm 96 Mỹ Thể cùng chồng về Orlando, Florida sinh sống. Và cũng từ năm 96, Mỹ Thể quyết định từ giã sân khấu.

Mỹ Thể tên thật là Công Huyền Tôn Nữ Mỹ Thể, sinh quán tại Huế. vào Sài Gòn năm 58 khi được 17, 18 tuổi.

Mỹ Thể giã từ cuộc đời vào ngày 08 tháng 10 năm 2000 tại Paris, sau khi được đưa từ Orlando qua chữa trị căn bệnh ung thư.

· HÙNG CƯỜNG

Một trong những nam danh ca của tân nhạc Việt Nam với giọng hát “ténor” nổi tiếng là Hùng Cường cũng đã xa lià cuộc sống vào cuối thập niên 90, sau khi rời Việt Nam vào ngày 28 tháng 02 năm 1980. Anh cư ngụ tại Garden Grove, California cho đến khi lìa đời.

Hùng Cường tên thật là Trần Kim Cường sinh ngày 21 tháng 12 năm 1935. Đó là người nghệ sĩ đã lăn lộn trong nghề trên bốn thập niên trong nhiều lãnh vực nghệ thuật : Tân Nhạc, Cổ Nhạc, Kịch Nghệ và Điện Aûnh. Anh đã bước lên sân khấu lần đầu tiên khi còn đang theo học tiểu học tại trường Trần Hưng Đạo với nhạc phẩm “Con Chim Hòa Bình Đang Đau Nặng” của Lê Thương và đã đươ.c toàn thể thầy cô, phụ huynh và học sinh cả trường hoan nghênh. Ngay từ những năm 54, 55 anh đã nổi tiếng qua các nhạc phẩm: Ông Lái Đò, Vọng Ngày Xanh, Sơn Nữ Ca, Đường Xưa Lối Cũ, Chàng Đi Theo Nước, vv…Qua đến thập niên 60, Hùng Cường được biết đến nhiều hơn nữa khi gửi đến người nghe những nhạc phẩm được gọi là kích động nhạc vào thời đó, nhằm vào những sinh hoạt trong cuộc sống quân ngũ như : Dù Hoa Lạc Lối, Đám Cưới Nhà Binh, Một Trăm Phần Trăm, Kim, Say, vv…Sau đó hợp với Mai Lệ Huyền thành cặp “Sóng Thần”, nổi tiếng với những ca khúc tươi vui và kích động như :  Hai Trái Tim Vàng, Vì Chưa Ngỏ Ý, Hờn Trách, Túp lều Lý Tưởng, Bắt Đền, vv… Tất cả những nhạc phẩm này đã đươ.c thu diã và đạt đươ.c một số bán kỷ lục…

· TRẦN VĂN TRẠCH

Người nghệ sĩ được mệnh danh là “quái kiệt” của nền tân nhạc Việt Nam là Trần Văn Trạch qua đời vào ngày 12 tháng 04 năm 1994. Người ta gọi ông là “quái kiệt” do mái tóc dài rất cách mạng trong thập niên 50 và do tài hoạt náo cùng nghệ thuật bắt chước những tiếng bắn súng, dội bom, tiếng phi cơ hay tiếng xe lửa chạy của ông cùng với tài bắt chước nhiều ngôn ngữ như Anh, Tầu và Nga. Ông là bào đệ của giáo sư Trần Văn Khê, bào huynh của cựu ca sĩ Ngọc Sương hiện cư ngụ tại Montreal, Canada và là chú của nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Quang Hải. Giới nghệ sĩ thường gọi ông bằng tên thân mật là “Anh Ba”, một người suốt đời tận tụy với sân khấu, với ánh đèn mầu. “Anh Ba” Trạch sinh năm 1924 tại làng Đông Hoà, tỉnh Mỹ Tho trong một gia đình có nhiều người am tường về âm nhạc, nhất là nhạc cổ.

Trần Văn Trạch bắt đầu trình diễn những nhạc phẩm hài hước trong những năm 1947-1948 tại vũ trường Theophlie ở vùng Đakao với những sáng tác của nhạc sĩ Lê Thương. Sau đó ông bắt đầu tự sáng tác với nhạc phẩm hài hước đầu tay là Anh Phu Xích Lô. Sau đó trở thành nổi tiếng với những nhạc phẩm hài hước Cái Đồng Hồ Tay, Cái Tê-Lê-Phôn, Sở Vòi Rồng, Đừng Có Lo, vv…hoặc  nhạc phẩm mang tính cách bi thương như Chuyến Xe Lửa Mồng Năm. Không những thế ông còn là tác giả của một nhạc phẩm hùng mạnh nổi tiếng là Chiến Xa Việt Nam. Nhưng đặc biệt hơn cả là không ai không biết tới nhạc phẩm Xổ Số Kiến Thiết Quốc Gia do ông sáng tác và trình bầy, được phát thanh hàng tuần trong chương trình xổ số kiến thiết ở miền nam Việt Nam.

Năm 1977, Trần Văn Trạch sang Paris, ông chỉ âm thầm hoạt động cho đến khi lìa đời. Ông được an táng tại nghĩa trang Valenton ở ngoại ô Paris…

· THANH HÙNG

Cũng tại Paris , vào ngày 09 tháng 10 năm 2003, một trong những hát “ténor” đầu tiên của Việt Nam cũng đã từ giã cõi đời tại bệnh viện thành phố Pontoise, ngoại ô Paris vào lúc 16 giờ 20. Sang định cư tại Paris từ năm 1996, Thanh Hùng trước đó được biết nhiều đến tên tuổi qua nghệ thuật trình bày những nhạc phẩm như “Hải ngoại thương ca”, “Mấy Dặm Sơn khê”, “Đêm Nguyện Cầu”, “Ông Lái Đò”, “Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn”, vv, vv… Năm 1966 Thanh Hùng  đoạt huy chương vàng đơn ca nam trong giải tuyển lựa ca sĩ. Đặc biệt tiếng hát ông được biết đến rất nhiều với câu hát đầu tiên cao vút trong nhạc phẩm “Hội nghị Diên Hồng”, được phát thanh thường xuyên trong những năm 60-61 Định cư tại Pháp năm 1996, Thanh Hùng thường đóng góp tích cực trong các chương trình văn nghệ của cộng đồng. Ai đã từng nghe những nhạc phẩm như . Một buổi tưởng niệm dành cho Thanh Hùng đã được tập san Ngày Mới tổ chức tại Paris vào ngày 07 tháng 12 năm 2003.

Cũng tại thủ đo Pháp Quốc, một nam ca sĩ nhạc trẻ được biết đến nhiều trong thập niên 60 tại Việt Nam cũng đã vĩnh viễn ra đi. Đó là Prosper Thắng, qua đời vào cuối thập niên 80. Một giọng ca nữ của nền nhạc trẻ Việt Nam là Jennie Mai cũng đã trở về với cát bụi vào năm 1991, khi còn trong lứa tuổi 30, đang trên đường tạo được tiếng vang. Cô qua đời do hậu quả đến từ một cuộc phẫu thuật thẩm mỹ tại Hawaii.

· BILLY SHANE

Cái chết gây xúc động nhất trong giới nhạc trẻ Việt Nam là cái chết của Billy Shane. Anh từ giã cõi đời ngày 19 tháng 11 năm 1994 tại nam California bỏ lại người vợ Mỹ tên Barbara.

Billy Shane tên thật là Billy Yamasaki, mang quốc tịch Nhật, sinh ngày 20 tháng 3 năm 1946. Khi còn theo học trung học tại trường Taberd, anh còn có tên là Billy Lee Klassen, mang quốc tịch Đức. Từ khi gia nhập ban nhạc trẻ The Spotlights vào năm 1966 tại Sài Gòn và sau đó là các ban The Strawberry Four, The Vibrations, vv…, Billy Shane đã tạo được rất nhiều chú ý với giọng ca cao vút của anh trong những nhạc phẩm như Love Me Please Love Me, Sherry, Barabara Ann, Cara Mia, vv…của các ban nhạc The Four Seasons, The Beach Boys, vv…Không những vậy những nhạc phẩm lờo Pháp do anh trình bày từng một thòi làm mê mệt những khán giả trẻ tuổi. Đó là những ca khúc như Maman, Tombe La Neige, Elle Eùtait Si Jolie, vv…

Billy Shane sang Hoa Kỳ từ thang3 năm 1972 và không còn hoạt động về ca nhạc nhiều như trước, ngoài một lần góp mặt trên chương trình video Kỷ Niệm 10 Năm của trung tâm Asia cũng như thu thanh trên vài tapes nhạc và CD của trung tâm này. Hoặc thỉnh thoảng giữ phần phụ họa trong những nhạc phẩm do các ca sĩ bạn trình bầy.

 

· HOÀNG THI THƠ

Sau một thời gian dài chịu đựng những biến chứng của bệnh suy tim mà ông chấp nhận một cách lạc quan, nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ đã qua đời vào khoảng hơn 8 giờ sáng ngày 29 tháng 09 năm 2001 tại nhà riêng ở thành phố Glendale, nam California.

Ông là tác giả của trên 600 ca khúc thuộc đủ mọi thể loại, đại đa số đã trở thành quen thuộc trong mọi từng lớp người yêu nhạc. Đó là những ca khúc như Chuyện Tình Người Trinh Nữ Tên Thi, Cô Lái Đò Bến hạ, Tà Áo Cưới, Đám Cưới Trên Đường Quê, Đường Xưa Lối Cũ, Gạo Trắng Trăng Thanh, Tôi Viết Tên Anh, vv…

Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ sinh ngày 01 tháng 07 năm 1928 (Mậu Thìn ) tại làng Bích Khê, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông bắt đầu hoạt động văn học nghệ thuật từ năm 45, tại Huế rồi Hà Tĩnh. Ông lập gia đình vào tháng 9 năm 57 với nữ ca nhạc sĩ Thúy Nga và có được 4 người con mà người con trưởng là nhạc sĩ dương cầm nổi tiếng Hoàng Thi Thi. Ngoài ra ông còn nhận người cháu ruột là nhạc sĩ vĩ cầm Hoàng thi Thao làm nghĩa tử, luôn theo sát ông trong suốt thời gian hoạt động văn nghệ. Ngoài lãnh vực sáng tác âm nhạc, Hoàng thi Thơ còn là một nhà tổ chức tài ba, từng nhiều lần hướng dẫn Đoàn Văn Nghệ Việt Nam đi trình diễn tại một số quốc gia Á Châu cũng như là giám đốc tổ chức những chương trình Hoàng Thi Thơ tại vũ trường Maxim’s từ năm 1967. Thêm vào đó, ông còn là một đạo diễn kịch nghệ từng làm say mê khán giả với những vở nhạc kịch như Cô Gái Điên, Ả Đào Say, vv…Ông cũng là một nhà nghiên cứu và sáng tạo bộ môn vũ dân tộc như muá trống, múa nón, múa xoè, múa Koho, vv…cùng với các vũ sư Trịnh Toàn và Lưu Hồng.

· HOÀNG TRỌNG 

Người nhạc sĩ lão thành được mệnh danh là ‘Vua Tango” đã vĩnh viễn ra đi vào năm 1998. Nhạc sĩ Hoàng Trọng tên thật là Hoàng Trung Trọng. Ông chào đời tại tỉnh Hải Dương vào năm 1922. 5 năm sau, ông theo bố mẹ về sống ở Nam Định cho đến năm 1933 và bắt đầu học nhạc qua người anh ruột. Đến năm 1937, ông theo học nhạc tại trường sư huynh Saint Thomas ở Nam Định. Năm 1941 ông tiếp tục nghiên cứu về âm nhạc qua sách vở và lóp dạy nhạc hàm thụ của trường Universelle De Paris.

Khi mới lên 15, ông đã qui tụ một số anh em trong già đình và vài người bạn như Đan Thọ, Đặng thế Phong, Bùi Công Kỷ, vv…thành lập một ban nhạc. Sáng tác đầu tay của ông là Đêm Trăng, ra đời từ khi ông mới được 16 tuổi. Từ khiếu tổ chức và tâm hồn say mê âm nhạc đó, sau này ông đã đứng ra điều hành một chương trình ca nhạc truyền thanh và truyền hình rất nổi tiếng là “Tiếng Tơ Đồng” trong nhiều năm. Đó là một trong vài chương trình khác của ông, qui tụ toàn những nhạc sĩ cừ khôi cùng các giọng ca tiêu biểu cho nền tân nhạc Việt Nam. Một phần lớn nhạc phẩm của Hoàng Trọng được sáng tác theo điệu tango để sau này ông được mệnh danh là “Vua Tango” của Việt Nam qua những nhạc phẩm tiêu biểu như : Mộng Ban Đầu, Mộng Lành, Tiễn Bước Sang Ngang, Ngỡ Ngàng, vv…Ngoài ra ông còn là tác giả của nhiều nhạc phẩm nổi tiếâng khác như  Gió Mùa Xuân Tới, Dừng Bước Giang Hồ, Nhạc Sầu Tương Tư, Bên Bờ Đại Dương, Mộng Đẹp Ngày Xanh, vv…

Nhạc sĩ Hoàng Trọng di cư vào Nam năm 1954 và đã tiếp tục sáng tác rất mạnh với nhiều ca khúc nổi bật, trong số có Ngàn Thu Aùo Tím.

Đặc biệt Hoàng Trọng là một nhạc sĩ viết nhạc cho rất nhiều cuốn phim Việt Nam, trong số có Xin Nhận Nơi Này Làm Quê Hương, Giã Từ Bóng Tối, Người Tình Không Chân Dung, Sau Giờø Giới Nghiêm, Bão Tình, Triệu Phú Bất Đắc Dĩ, vv…Với phim sau, ông được nhận giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật 72 – 73.

Sau năm 75, Hoàng Trọng chỉ sáng tác được vài bài nhưng không phổ biến, trong số có nhạc phẩm cuối cùng của ông là Chiều Rơi Đó Em. Năm 1992 ông qua định cư tại Hoa Kỳ và qua đời 6 năm sau.

· LÊ TRỌNG NGUYỄN 

Tác giả của nhạc phẩm bất hủ Nắng Chiều cũng không còn nữa. Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyên ra đi vào năm 78 tuổi, vào lúc 4 giờ 15 sáng ngày 09 tháng 01 năm 2004 tại Rosemead, thuộc Los Angeles. Lê Trọng Nguyễn là tên thật của người nhạc sĩ sinh quán tại Điện Bàn, Quảng Nam này.

Tuy ông không sáng tác nhiều, nhưng có một số tác phẩm được nhiều người biết đến, nhất là Nắng Chiều, từng được rất nhiều nam nữ ca sĩ trình bày từ trước năm 75 và sau này tại hải ngoại. Đặc biệt vào năm 1958, Nắng Chiều đã được một nữ ca sĩ người Nhật tên Midori Satsuki trình bày và thường xuyên được phát trên các đài Sài Gòn và Quân Đội. Nhạc phẩm này cũng được phổ biến tại Nhật. Vào khoảng năm 1960, Nắng Chiều lại được một nữ ca sĩ kiêm tài tử Đài loan trình bây bằng tiếng Trung Hoa dưới tựa đề “Bài Tình Ca Việt Nam”. Nhạc phẩm này đã được thính giả Đài Loan và Hồng Kông tán thưởng nhiệt liệt. Ngoài ra còn vài ca khúc khác của Lê trọng Nguyễn cũng được biết tới như  Lá Rơi Bên thềm, Sao Đêm, Chều Bên Giáo Đường, Bến Giang Đầu, Cát Biển, vv…

Nhạc sĩ Lê Trọng Nguyễn cùng vợ và4 con ( 3 gái, 1 trai) sang định cư tại thành phố Rosemead vào năm 1983.

· THẨM OÁNH

Nhạc sĩ Thẩm Oánh tên thật là Thẩm Ngọc Oánh xuất thân từ một gia đình danh gia vọng tộc, sinh năm 1916 tại Hà Nội. Ông học vỡ lòng với một thầy đồ tại nhà riêng. Nhờ thầy đồ này biết chơi đàn Tầu nên đã gây được một ảnh huởng không nhỏ nơi Thẩm Oánh, lúc đó mới lên 6. Sau khi thầy đồ về quê, Thẩm Oánh đã học âm nhạc qua một số sách viết bằng tiếng Pháp. Và khi học xong bậc trung học tại các trường Clémenceaux, Albert Sarrault và Puginier ở Hà Nội, ông bắt đầu dậy nhạc từ năm 1934, khi mới 18 tuổi.  Tuy số sáng tác phẩm của ông tới tới con số trên 1000, nhưng ông chỉ cho phổ biến vài chục bài đắc ý nhất, sáng tác dưới những đề tài chính là:
– Nhạc anh hùng ca
– Nhạc Phật giáo
– Nhạc nhi đồng
– Nhạc tình cảm

Là người tha thiết với đất nước dân tộc, Thẩm Oánh đã viết nhiều ca khúc để đời như Việt Nam Hùng Tiến ( được dùng làm đài hiệu cho đài phát thanh Hà Nội và Sài Gòn), Nhà Việt Nam, Trưng Nữ Vương, Chu Văn An Hành Khúc, Thiếu Phụ Nam Xương, vv… Và mỗi dịp Xuân Về, không ai quên được ca khúc Xuân đặc sắc của ông là Xuân Về.

Ngoài những hoạt động say mê trong lãnh vực âm nhạc, ông còn là người có nhiều hoạt động trong ngành truyền thanh, Chính ông ở trong số những người đứng ra sáng lập đài phát tha nh Hà Nội, tiếp thu từ tay người Pháp.

Một chi tiết khá lý thú ít người biết là chính nữ diễn viên kịch và điện ảnh nổi tiếng Thẩm Thuý Hằng ( tên thật là Nguyễn Thị Minh Phụng) đã mưiợn họ Thẩm của ông dùng làm nghệ danh cho mình. Thời đó nhạc sĩ Thẩm Oánh là hiệu trưởng Trường Ca Vũ Nhạc Phổ Thông mà Thẩm Thúy Hằng theo học bộ môn kịch do ông Hoàng Trọng Miên làm giáo khảo tuyển sinh và giáo sư kịch nghệ.

Thẩm Oánh cùng gia đình sang định cư tại vùng thủ đô Hoa Thịnh Đốn vào năm 1991. Vợ ông, bà Trần Anh Đào cũng là một nhạc sĩ và là em họ của cố nhạc sĩ Dương Thiệu Tước. Hai người quen biết nhau vào năm 1938 qua sự giới thiệu của nhạc sĩ Dương Thiệu Tước, và thàùnh hôn vào năm 1948. Vào tháng 4 năm 1993, Hội Cựu Nữ Sinh Trưng Vương vùng Hoa Thịnh Đốn đã tổ chức một đại nhạc hội với chủ đề “60 Năm Aâm Nhạc Thẩm Oánh”.  Đồng thời đã cho phát hành tuyển tập “Nhớ Nhung”  để vinh danh một nhạc sĩ đã tận tụy đóng góp cho nền tân nhạc Viết Nam và cũng để tri ân một vị giáo sư đã giảng dạy âm nhạc nhiều năm tại các trường Trưng Vương, Chu Văn An và Nguyễn Trãi. Vao năm 1996, nhạc sĩ Thẩm Oánh ra đi, để lại nhiều tiếc nuối cho mọi người. Ông hưởng thọ 80 tuổi.

· LÊ UYÊN PHƯƠNG

Sau một thời gian điều trị ở bệnh viện UCI (University Of California in Irvine ) Lê Uyên Phương đã về nhà người con gái lớn của anh là Lê Uyên Uyên để sống những ngày bi thảm với một tình trạng sức khỏe sa sút do căn bệnh ung thư phổi tàn phá. Và cuối cùng anh đã lại được đưa lại bệnh viện này để trút hơi thở cuối cùng vào chiều thứ Ba 29 tháng 06 năm 1999.

Theo Lê Uyên Phương cho biết tên thật của anh là Lê Minh Lấp, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1941 tại Đà Lạt.  Vì sinh ra vào thời kỳ chiến tranh nên giấy tờ hộ tịch bị thất lạc, nên Lê Uyên Phương đã đôi lần phải làm lại giấy khai sinh.  Và mỗi lần khai là một lần tên anh bị viết sai bởi viên chức hộ tịch ! Khai sinh lại lần đầu tiên tên Lê Minh Lập bị đổi thành Lê Minh Lộc.  Làm khai sinh lần thứ hai thành Lê Văn Lộc.  Từ đó anh không đổi nữa, giữ luôn tên Lê Văn Lộc làm tên chính thức trên giấy tờ.  Khi viết nhạc anh lấy tên là Lê Uyên Phương, và khi trình diễn cùng Lê Uyên, hai người lấy tên là cặp song ca Lê Uyên và Phương.

Lê Uyên Phương lập gia đình với Lâm Phúc Anh (tức Lê Uyên ) vào năm 68. Năm sau, hai người rời Việt Nam và định cư tại nam California.Sau 15 năm chung sống, hai người đi đến đổ vỡ vào khoảng 84, 85. Họ có với nhau hai con gái là Lê Uyên Uyên và Lê Uyên My.

Lê Uyên Phương là tác giả của nhiều ca khúc tình cảm, bàng bạc mầu sắc triết lý về tình yêu và thân phận con người, đã gây được một ảnh hưởng lớn mạnh trong giới trẻ yêu nhạc từ cuối thập niên 60. Sáng tác đầu tay của Lê Uyên Phương là Buồn Đè Bao Giờ, ra đời tại Pleiku năm 1960. Những năm sau đó là những Vũng Lầy Của Chúng Ta,Dạ Khúc Cho Tình Nhân, Hãy Ngồi Xuống Đây, Lời Gọi Chân Mây, Tình Khúc Cho Em, Trên Da Tình Yêu, Uống Nước Bên Bờ Suối, vv…

· VÔ THƯỜNG 

Tiếng đàn guitar nhiều quyến rũ và rất có hồn  quen thuộc đối với người yêu nhạc đã lịm tắt cùng người tao ra nó là Vô Thường. Người nghệ sĩ gây được nhiều cảm mến  với thính giả, với bạn bè và có một tính tình giản dị và hòa nhã đó đã nhắm mắt lìa đời tại Garden Grove, nam California vào lúc 2 giờ 30 chiều ngày Thứ Bẩy 26 tháng 04 năm 2003 do bệnh ung thư phổi. Theo người con lớn của anh với người vợ đầu tiên cho biết, Vô Thường sút kém về sức khỏe từ lâu do bệnh phổi gây ra. Đến tháng 12 năm 2002, thấy người bố thân yêu của mình lâm vào tình trạng nguy cấp nên cháu Diễm đã tức tốc đưa anh vào nhà thương Fountain Valley điều trị. Tại đây, các bác sĩ  cho biết Vô Thường bị ung thư phổi, đã đến thời kỳ trầm trọng. Sau một thời gian thường xuyên phải vào bệnh viện này, cuối cùng anh đã chuyển qua bệnh viện Garden Grove để sau đó được đưa vào trung tâm Pacific Health Care là nơi dành cho những người không còn cơ hội được cứu sống.

Vô Thường tên thật là Võ Văn Thường, sinh năm 1940 tại Phan Rang. Anh là người con áp út trong một gia đình có 7 người con. Vô Thường đặt chân tới Hoa Kỳ vào năm 75, cư ngụ tại tiểu bang Wisconsin. Năm 77, anh dời qua miền nam California để 5 năm sau đứng ra khai thác vũ trường Ritz ở Orange County, trước khi nhường lại cho nhạc sĩ Ngọc Chánh. Từ năm 1986, anh bắt đầu thu băng những ca khúc độc tấu guitar một cách thật tình cờ. Anh cho biết là trong lúc hứng chí đó, anh đã đàn guitar liên tiếp bản này qua bản khác với sự phụ họa của một cây keyboard giữ nhịp tự động để thâu vào một băng cassette thường gắn chung với keyboard. Cuốn băng đầu tiên do Vô Thường độc tấu guitar ra đời vào năm 87 dưới tên Ru Khúc Mộng Thường với số phát hành chỉ vỏn vẹn có 200! Từ đó trở đi, trong suốt nhiều năm gần như tại khắp mọi tiệm ăn, tiệm băng nhạc và những quán cà phê ở California cũng như những nơi có người Việt cư ngụ đều vang lên tiếng guitar của Vô Thường.

Vào năm 91, Vô Thường chung sống với nhạc sĩ Lê Tín Hương, một thời gian là một  MC nổi tiếng, tuynhiên hai người đã chia tay nhau vào năm 99, để lại nơi anh một niềm đau xót sâu xa.

· NHỊ HÀ: MẸ TÔI

Tác giả nhạc phẩm “Mẹ Tôi”, một trong vài nhạc phẩm ca ngợi lòng mẹ đặc sắc của tân nhạc Việt Nam đã vĩnh viễn xa rời cuộc sống vào ngày 10 thang 10 năm 1988 tại thành phố Houston do ung thư gan. Nhạc sĩ Nhị Hà tên thật là Lê Quang Mại,sinh ngày 24 tháng 08 năm 1935 ở Quảng Bình.  Ông là người con thứ 2 trong một gia đình có 5 người con.

Vào năm 1958, Nhị Hà trở ra Huế để lập gia đình tại đây với người bạn gái học chung năm cuối ở trường Khải Định tên Kim Khuê. Hai người có với nhau 7 người con. Năm 1960, ông vào Saigon tiếp tục học. Sau một thời gian sang Mỹ tu nghiệp, ông về Việt Nam làm việc tại Nha Cải Huấn cho đến năm 1975.

Năm 1975, Nhị Hà di tản sang Mỹ và cư ngụ tại tiểu bang Arizona.  Sau đó, ông dời về tiểu bangWashington.  Sau cùng ông và gia đình về cư ngụ tại thành phố Houston (Texas) vào năm 1979 cho đến khi ông qua đời. Tổng số tác phẩm của Nhị Hà  khoảng 20 bài.  Nhạc phẩm đầu tiên ông sáng tác lúc mới 13 tuổi là bài Mẹ Tôi, một sự phối hợp đặc biệt giữa khả năng thiên phú về âm nhạc và lòng thương yêu hết lòng người mẹ đã cả đời tận tụy vì con cái. Một vài nhạc phẩm khác đã đưa tên tuổi của ông lên cao là Trở Về Thôn Cũ và Nhớ Một Mùa Hoa, vv…Tác phẩm cuối cùng của ông là Yêu, viết trước khi qua đời, trong thời gian điều trị tại bệnh viện.

· HOÀNG LANG 

Trưởng ban “Đàn Dây Hoàng Lang” nổi tếng trong những thập niên 60 và 70 trên đài phát thanh Sài Gòn là nhạc sĩ Hoàng Lang cũng đã nhắm mắt lìa đời vào lúc 2 giờ sáng ngày 27 tháng 11 năm 2004 tại Geneva, Thụy Sĩ, hưởng thọ 74 tuổi.

Nhạc sĩ Hoàng Lang tên thật là Phạm Phúc Hiển, sinh năm 1930 tại làng Tân Mỹ Đông, quận Hóc Môn, Gia Định. Ông sinh trưởng trong một gia đình trung lưu mà ông là con trưởng với 2 người em gái. Nhạc sĩ Hoàng Lang từng là giáo sư âm nhạc tại trường Huỳnh Thị Ngà và Pétrus Ký.  Về nhạc khí, nhạc sĩ Hoàng Lang có khả năng sử dụng nhiều loại như  đại hồ cầm, trung hồ cầm, Tây Ban Cầm, Mandoline, vv…Với những nhạc khí đó, ông đã cộng tác với hầu hết những ban nhạc nổi tiếng của đài Phát Thanh Sài Gòn như Võ Đúc Thu, Hoàng Trọng, Văn Phụng, Nhật Bằng, Dương Thiệu Tước, Ngọc Bích, vv…

Ông là tác giả của khoảng 150 nhạc phẩm, trong số có Hoa Học Trò, Dạ Khúc Hoài Cảm, Xin Trả Lại Em, Tiếng Hát Đồi Sim, vv…và nổi tiếng nhất với nhác phẩm Hoài Thu. Cũng nên biết, ông còn là thầy dạy nhạc của nhạc sĩ nổi tiếng Lam Phương.

Năm 72, ông sang du học tại Thụy Sĩ với môn âm nhạc và truyền hình giáo dục để thực nghiệm. Sau năm 75, ông kẹt lại Thụy Sĩ và tiếp tục thực thi bộ môn theo học. Năm 80, chính phủ Thụy Sĩ ký nghị định chính thức hoá chức vụ thông dịch viên của ông tại Geneva, phục vụ tại Tổng Cục Liên Bang Tỵ Nạn Thụy Sĩ, Hội Hồng Thập Tự Quốc Tế, các toà án và các cơ sở chính quyền tại Geneva

 

· NGỌC BÍCH

Một trong những nhạc sĩ lão thành của nền tân nhạc Việt Nam đã qua đời vào đêm 15 tháng 10 năm 2001 tại bệnh viện Los Angeles, nam California do tình trạng nhồi máu cơ tim. Đó là nhạc sĩ Ngọc Bích, sinh năm 1925. Ông là tác giả của những ca khúc đã đi sâu vào tâm hồn người nghe như Trở Về bến Mơ, Khúc Nhạc Chiều Mơ, Mộng Chiều Xuân, Giấc Mơ Ngàn. Ông cũng là tác giả của bài Suy Tôn Ngô Tổng Thống ( lời của Thanh Nam ) mà tất cả ai cũng biết trong thời Đệ Nhất Cộng Hoà. Nhạc sĩ Ngọc Bích là một người có cuộc sống khép kín, không lập gia đình mặc dù là một nghệ sĩ tài hoa. Năm 1942, ông đã chơi nhạc cho một vũ trường ở Hà Nội và là thành viên trong nhóm nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên xuất ngoại sdang Trung Quốc giúp vui cho các sĩ quan đồng minh tại đây vào đầu thập niên 40. Nhạc sĩ Ngọc Bích di cư vào Nam năm 1954 và làm việc tại các đài phát thanh Quân Đội, đài phát thanh Sài Gòn và Mẹ Việt Nam. Cùng với các nhân viên của đài sau, ông đã rời Việt Nam vào cuối tháng 4 năm 75 để định cư  tại nam California. Khi người bạn thân của ông từ thời thơ ấu là nhạc sĩ Nguyễn Hiền đến Hoa Kỳ, ông cùng Nguyễn Hiền và vài nhạc sĩ trẻ khác thành lập ban nhạc Saigon Band, hoạt động trong một thời gian dài.

· NGÔ MẠNH THU

Phong trào du ca cũng đã mất đi một tên tuổi lớn trong.  Đó là nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu, pháp danh Tâm Hoà, qua đời vào năm 2004 tại thành phố Irvine, nam California, hưởng thợ 66 tuổi.  Nhạc sĩ Ngô Mạnh Thu sinh ngày  12 tháng 09 năm 1938 tại Hà Đông. Ông sang Mỹ đoàn tụ năm 1994 do con trai bảo lãnh và cư ngụ tại Orange County cho đến ngày cuối đời. Tại đây ông tiếp tục sinh hoạt mạnh mẽ bằng cách dựng lại phong trào Du Ca, đóng góp cho gia đình Phật Tử, tái sinh phong trào hát cộng đồng, hoạt động văn nghệ trẻ với Hội Văn Học Nghệ Thuật Việt Mỹ,  thành lập nhóm Hùng Sử Ca, vv…Ngoài ra ông còn là một thành phần cột trụ của đài phát thanh VNCR, rất được nhiều người theo dõi qua chương trình Chúng Ta Đi Mang Theo Quê Hương. Ngô Mạnh Thu đã sáng tác trên 100 ca khúc, trong số có : Nhớ Mãi, Nước Việt Nam, Kết Dây Thân Tình, Vu À Vui, Từ Một Cơn Mơ, Quê Hương Ta Đó, Buổi Sáng Nghe Chim Hót, Lạc Vùng Ăn Năn, vv…

· NHẬT BẰNG 

Sau hàng chục năm dâng hiến cuộc đời mình cho âm nhạc, nhạc sĩ Nhật Bằng đã qua đời vào lúc 8 giờ 30 tối thứ Sáu 07 tháng 05 năm 2004 do tai biến mạch máu não tại Fairfax, tiểu bang Virginia, Hoa Kỳ.  Ông hưởng thọ 74 tuổi. Khi mới được 17 tuổi vào năm 1947, Nhật Bằng đã sáng tác nhạc phẩm đầu tay mang tên “ Đợi Chờ “, ghi lại một mối tình thời học trò của ông khi còn ở Hậu Phương.

Nhật Bằng sinh năm 1930 tại Hà Nội trong một gia đình có 4 người con. Ông là anh cả của 3 nghệ sĩ đã có thời gian cùng với ông kết hợp thành ban hợp ca nổi tiếng Hạc Thành, với người em trai là Nhật Phượng và 2 em gái là Thể Tần và Hồng Hảo.
Từ năm 56 cho đến 69 là thời kỳ sáng tác hăng say của Nhật Bằng.Nhưng có thể nói nhạc phẩm được coi như gắn liền với tên tuổi ông là Thuyền Trăng, sáng tác chung với Thanh Nam. Ngoài ra còn có nhiều nhạc phẩm được biết tới  nhiều như  Bóng Người Chiến Sĩ, Chiến Sĩ Ca, Bóng Chiều Tà, Sau Lũy Tre Xanh, Mùa Đông Tuyết Trắng, vv…

Ông lập gia đình năm 1958 với một nữ nhân viên tùng sự tại đài phát thanh Quân Đội. Cũng vào thời kỳ này ban tam ca nam có cái tên ngộ nghĩnh là “Do Si La” ra đời với bộ ba Anh Ngọc, Nhật Bằng và Văn Phụng. Chuyên trình bầy những nhạc phẩm tươi vui, phần lớn là của Văn phụng, như Vó Câu Muôn Dặm hay Ta Vui Ca Vang.

Vào năm 90, Nhật Bằng cùng vợ và 5 người con được sang Mỹ theo diện HO và đã cùng với các con thành lập một ban nhạc lấy tên là The Blue Ocean, nổi tiếng ở vùng Washington DC, bao gồm nơi gia đình ông cư ngụ là thành phố Herndon, Fairfax thuộc tiểu bang Virginia.

· PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG 

Vào năm 1991, một tên tuổi lớn của nền tân nhạc Việt Nam đã qua đời để lại nhiều thương tiếc nơi mọi người. Đó là Phạm Đình Chương tức Hoài Bắc.

Nhạc sĩ Phạm Đình Chương sinh ngày 14 tháng 11 năm 1929 tại Bạch Mai, Bắc Việt. Quê nội ông ở Hà Nội và quê ngoại ở Sơn Tây. Phạm Đình Chương bắt đầu sáng tác khi mới lên 18 tuổi. Những tác phẩm đầu tay của ông trong thời gian theo kháng chiến chống Pháp là Ra Đi Khi Trời Vừa Sáng, Hò Leo Núi, vv…Thời gian “dinh tê” về thành rồi theo anh em vào Nam giữa năm 51, ông đã cho ra đời được nhiều ca khúc giá trị khác như Khúc Giao Duyên, Tiếng Dân Chài, Thằng Cuội, Được Mùa, vv…Thời gian sau, qua nghệ thuật hợp ca của ban Thăng long, nhiều sáng tác khác của ông được quần chúng rất tán thưởng là : Xóm Đêm, Ly Rượu Mừng, Đón Xuân, vv…

Về tình ca Phạm Đình Chương, khó ai quên được những nhạc phẩm như Đêm Cuối Cùng, Thuở Ban Đầu và nhất là Mộng Dưới Hoa, phổ thơ Đinh Hùng.  Ngoài ra không thể quên những nhạc phẩm phổ từ thơ khác rất nổi tiếng của ông, đáng được gọi là bất hủ như Màu Kỷ Niệm ( thơ Nguyên Sa ), Nửa Hồn Thương Đau ( thơ Thanh Tâm Tuyền ), Người Đi Qua Đời Tôi ( thơ Trần Dạ Từ ), Đôi Mắt Người Sơn Tây ( thơ Quang Dũng ), Mưa Sài Gòn, Mưa Hà Nội ( thơ Hoàng Anh Tuấn ), Đêm Màu Hồng ( thơ thanh tâm Tuyền ). Nhưng chắc chắn phải kể đến sự đóng góp rất lớn của ông cho nền âm nhạc Việt Nam là trường ca Hội Trùng Dương, gồm 3 phần: Tiếng Sông Hồng, Tiếng Sông hương và Tiếng Sông Cửu Long.

Ngoài phần là một nhạc sĩ sáng tác, Phạm Đình chưong còn là một ca sĩ với tên Hoài Bắc.

· THU HỒ 

Ngày 29 tháng 5 năm 2000 đã đánh dấu cho sự ra đi về nơi nước Chúa của nhạc sĩ lão thành Thu Hồ tại thành phố Westminster, nam California do biến chứng của bệnh tiểu đường, hưởng thọ 82 tuổi. Ông là tác giả của ca khúc nổi tiếng Quê Mẹ – sáng tác năm 1943 –  và một số ca khúc khác như Khúc Ca Đồng Tháp, Tiếng Sáo Chiều Quê, Tím Cả Rừng Chiều, vv…Nhạc sĩ Thu Hồ lập gia đình năm 25 tuổi và có tất cả 9 người con mà nữ ca sĩ Mỹ Huyền là người con út. Vợ ông qua đời vào năm 1975. Nhạc sĩ Thu Hồ cùng các con rời Việt Nam sang Mỹ năm 1990. Sau 3 năm đầu ở San Diego với gia đình người con trai cả, ông dời lên vùng Little Saigon cho đến khi vĩnh viễn ra đi.

Ông là một con chiên ngoan đạo, từng là một thành viên trong ủy ban sáng lập giáo xứ Fatima, Bình Triệu là nơi ông cư ngụ một thời gian.

Trước khi được biết đến như một nhạc sĩ sáng tác, Thu Hồ từng một thời là một giọng hát được khá nhiều người biết đến qua những nhạc phẩm của Tino Rossi, thần tượng của ông. Sau khi vào Sài Gòn ông từng được mời hát trên đài phát thanh Pháp Á. Trong thời gian từ năm 50 đến 60, ông thường hát trong những chương trình phụ diễn tân nhạc và đạt được nhiều thành công. Cùng một lúc ông còn phụ trách phần tuyển nhạc cho nhà xuất bản An Phú, chuyên phát hành những bản nhạc rời. Ông cũng còn là một giáo sư dạy nhạc cho các trường Nguyễn Bá Tòng, Thánh Thomas, Thiên Phước, Nguyễn Trường Tộ và Quang Minh tại Sài Gòn, dù trước đó ông chỉ học hỏi âm nhạc qua sách vở. Thêm vào khả năng âm nhạc đặc biệt, Thu Hồ còn là một thi sĩ, nghiêng về những đề tài có tính cách tôn giáo.

· TRẦM TỬ THIÊNG 

Trong số những nhạc sĩ sáng tác có nhiều gắn bó với quê hương nhất thì Trầm Tử Thiêng là một tên tuổi sáng chói với rất nhiều nhạc phẩm đã đi vào lòng người từ trước năm 75 cho đến khi ông qua đời vào hồi 8 giờ 15 sáng ( giờ California ) ngày Thứ Ba 25 tháng 01 năm 2000 tại bệnh viện Anaheim West Medical Center, nam California thuộc thành phố nơi ông cư ngụ. Hồ sơ bệnh lý của nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng ghi lý do đã đưa đến cái chết là bị ngộp thở do bệnh tim, sau khi được đưa vào bệnh viện vào ngày hôm trước. Ba tháng trưóc đó, ông bị cảm nặng nên đã không ăn uống được nhiều cho đến khi ông ra đi không một lời trăn trối mặc dù có người cháu trai bên cạnh. Ông sống đời độc than cho đến khi nhắm mắt, trong khi gia đình ông còn ở tại Việt Nam.

Trầm TửThiêng viết nhạc từ cuối thập niên 50, nhưng mãi đến giữa thập niên 60, những tác phẩm của ông mới được phổ biến rộng rãi và trở thành những nhạc phẩm gắn liền với những diễn tiến xã hội trong khung cảnh một miền Nam Việt Nam thời chiến. Có người còn coi ông như một nhân chứng của thời cuộc, ghi lại nhiều hình ảnh khó quên trong những tác phẩm của mình, nhờ một thời gian dài pục vụ trong Cục Tâm Lý Chiến.

Trầm Tử Thiêng là tác giả của nhiều nhạc phẩm nổi tiếng trước năm 75. như  Chuyện Một Chiếc Cầu Đã Gẫy,  Tưởng Niệm”,  Kinh Khổ ,  Bài Hương Ca Vô Tận, Đưa Em Vào Hạ, , vv… Trong 10 năm ở lại Việt Nam, ông đã sáng tác được một số ca khúc đến từ những kinh nghiệm của chính bản thân hoặc từ những hoàn cảnh thực tế, sau này được phổ biến tại hải ngoại. Đó là Tâm Ca Của Người Tù Vượt Biển, Hành Ca Trên Nông Trường Oan Nghiệt, Gửi Em hành Lý, Người Ở Lại Đưa Đò, Mẹ Hậu Giang, Du Ca Trên Thành Phố Đỏ, vv…Tại hải ngoại, những sáng tác của ông đã gây xúc động không ít nơi người nghe với Đêm Nhớ Về Sài Gòn , Mười Năm Yêu Em, Chọt Nghĩ Về Hai Nơi,  Bước Chân Việt Nam, Có Tin Vui Giữa Giờ Tuyệt Vọng, Một Ngày Việt Nam, Bên Em Đang Có Ta ( viết lời theo ý và nhạc của Trúc Hồ ), Lưu Vong Khúc Cho Người Việt Nam ( viết lời Việt cho nhạc phẩm Exodus ), vv…

Trầm Tử Thiêng tên thật là Nguyễn Văn Lợi, theo trả lời một cuộc phỏng vấn chính thức, sinh ngày 01 tháng 10 năm 1937 tại Quảng Nam, định cư tại Hoa Kỳ từ năm 85, sau khi vượt biển và một thời gian rên trại tỵ nạn Galang.  Sau trên 30 năm sáng tác, ông đã để lại một gia tài âm nhạc  tuyệt vời với trên 300 ca khúc giá trị.

 

DUY KHÁNH 

Một nam ca nhạc sĩ rất nặng lòng với quê hương và có nhiều gắn bó đậm đà với miền Trung là Duy Khánh cũng đã ra đi vào đúng 12 giờ trưa ngày 12 tháng 02 năm 2003 tại Orange County County, hưởng thọ 65 tuổi. Oâng đã phải vào bệnh viện Fountain Valley từ cuối năm 2002 để điều trị nhiều bệnh cùng một lúc như thận, gan, tim. Oâng mất đi đê63 lại vợ vợ là  bà Thuý Hoa và 3 người con, 1 trai và 2 gái.

Duy Khánh nổi tiếng qua các nhạc phẩm như Ai Ra Xứ Huế, Thương Về Miền Trung, Xin Anh Giữ Trọn Tình Quê, Lối Về Đất Mẹ, Huế Đẹp Huế Thơ, Bao Giờ Em Quên, vv…

Duy Khánh tên thật là Nguyễn Văn Diệp, sinh năm 1936 tại làng An Cư, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Ông là người con áp út trong số 6 người con của một gia đình vọng tộc . Oâng khởi nghiệp ca hát bằng nghệ danh Tăng Hồng. Với nhạc phẩm Trăng Thanh Bình, ông đã trúng tuyển kỳ tuyển lựa ca sĩ của đài phát thanh Pháp Á vào  khoảng giưã thập niên 50. Mặc dù gặp phải sự phản đối của gia đình khi tỏ ra muốn theo đuổi nghiệp cầm ca, Duy Khánh chuyển hẳn vào Sài Gòn, bắt đầu hát trên các sân khấu đại nhạc hội, đài phát thanh cũng như bắt đầu thu đĩa nhựa hay hợp tác với  ban văn nghệ của Hoàng Thi Thơ đi lưu diễn khắp nước.

Sau năm 75, Duy Khánh sống trong một tình trạng chật vật vì trước đó chỉ sống với giọng hát và dòng nhạc của mình. Trong tình trạng bị cấm hát, anh đâm ra chán nản để chỉ biết tìm say trong men rượu. Khi các đoàn ca nhạc được phép hoạt động lại, Duy Khánh thành lập đoàn Quê Hương, qui tụ nhiều tài danh miền Nam trước 75 như Châu Kỳ, Nhật Ngân cùng các ca sĩ như Ngọc Minh, Bảo yến, Nhã Phương, vv…và tạo được nhiều thành công.

Duy Khánh cùng vợ con đến Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 08 năm 1988. Thời gian đầu, ông được mời đi trình diễn nhiều nơi, nhận được rất nhiều lời mời thu thanh và còn nhận hát độc quyền cho trung tâm Làng Văn. Sau khi hết giao kèo với trung tâm này, ông đứng ra thành lập trung tâm riêng của mình là Trường Sơn, cùng một lúc một lớp dạy nhạc.

· VĂN PHỤNG 

Văn Phụng tên thật là Nguyễn Văn Phụng, sinh tại Hà Nội năm 1930.  Ngoài một người chị đã mất, ông còn hai người em trai, một người hiện ở tiểu bang Ohio và một người còn lại Việt Nam.  Văn Phụng học bậc tiểu học ở trường Louis Pasteur, trung học ở trường Albert Sarrault. Là một học sinh rất xuất sắc, nên năm 16 tuổi ông đã đậu Tú Tài. Văn Phụng đam mê âm nhạc từ nhỏ và đã được hai giáo sư dương cầm là bà Perrier và bà Vượng chỉ dẫn về nhạc khí này.  Nhờ có một năng khiếu đặc biệt, vào năm 15 tuổi ông đã đoạt giải nhất về dương cầm trong một cuộc tuyển lựa tại Nhà Hát Lớn Hà Nội với nhạc phẩm La Prière D’Une Vierge. Đến năm 1946, trong thời gian ở hậu phương ông đã được linh mục Mai Xuân Đĩnh chỉ dẫn thêm về nhạc, và sau đó tự học hỏi qua sách vở. Vì quá mê nhạc nên ông đã không học thêm về ngành y khoa sau khi đã theo học một năm theo yêu cầu của thân phụ, rất  thích ông trở thành một bác sĩ.

Cũng vào năm 1948, trong niềm vui sống trong âm nhạc là con đường ông đã quyết định chọn lựa, Văn Phụng sáng tác nhạc phẩm đầu tiên “Ô Mê Ly”, trở thành một nhạc phẩm rất quen thuộc cho đến nay. Khởi đầu cho sự nghiệp âm nhạc của mình với “Ô Mê Ly” vào năm 1948  và kết thúc với “Chán Nản” vào năm 1972, Văn Phụng đã sáng tác hàng trăm nhạc phẩm, trong số đó có rất nhiều nhạc phẩm đặc sắc như  Các Anh Đi, Tình, Suối Tóc, Mưa, Tiếng Hát Với Cung Đàn, là Tiếng Dương Cầm, Trở Về Huế, Tôi Đi Giữa Hoàng Hôn,vv…

Tiếng hát Châu Hà và tiếng đàn Văn Phụng đã hòa cùng một nhịp điệu vào khoảng năm 56, 57, vài năm sau khi ông từ ngoài hà Nội “ghé bến Sài Gòn”. Họ chính thức thành hôn vào năm 1963 và với nhau hai người con gái, hiện đều ở Hoa Kỳ . Khi gặp Châu Hà trong thời kỳ mới đi hát, Văn Phụng là nhạc trưởng tại đài phát thanh Quân Đội, nơi ông cộng tác một thời gian dài, cùng một lúc còn phụ trách một chương trình ca nhạc trên đài phát thanh Sài Gòn và đài Truyền Hình Việt Nam.

Năm 1978, gia đình Văn Phụng vượt biển đến một đảo ở Mã Lai.  Sau 5 , 6 tháng ở đây gia đình ông đến tiểu bang Virginia, cư ngụ tại Firfax cho đến khi qua đời vào ngày 17 tháng 12 năm 1999 do tác hại của bệnh tiểu đường. Sau đó thi hài người nhạc sĩ tài hoa này đã được vĩnh viễn chôn vùi dưới lòng đất ngày 22 tháng 12 năm 99 với những nghi thức dành cho một tín hữu đạo Tin Lành.

· ĐỖ LỄ 

Chỉ hơn một năm sau khi sang Mỹ cùng vợ con theo diện ODP do người anh bảo lãnh và định cư ở thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania, Đỗ Lễ đã tìm đến cái chết bằng cách tự tử ở Sài Gòn vào ngày 24 tháng 03 năm 1997 trong một lần trở lại đây từ tháng 10 năm 1996. Ngay cả vợ anh là chị Vương Thị Lam Phương cũng hề biết lý do nào đã khiến anh tìm cái chết nơi căn nhà mướn trên đường Trần Đình Xu, Sài Gòn. Tuy nhiên người ta được biết Đỗ Lễ đã tỏ ra rất chán nản với cuộc sống tại Hoa Kỳ. Khi  đề cập đến người chồng nghệ sĩ của mình, chị Lam Phương cho biết Đỗ Lễ “là một người rất ủy mị, con người anh ấy cũng rất yếu đuối, cứ gặp chuyệïn gì buồn là trở nên rất suy sụp, trở nên rất chán nản  và không còn thiết hoạt động gì…theo tôi nghĩ đó chính là điều đưa đến cái chết của anh ấy…”

Đỗ Lễ tên thật là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12 tháng 10 năm 1941 tại Hà Nội. Anh tự học nhạc và bắt đầu sáng tác tgừ khi mới được 14 tuổi. Vào năm 1965 từng chiếm Huy Chương Vàng trong một cuộc thi Lực Sĩ Đẹp.

Đỗ Lễ đã sáng tác trên 700 nhạc phẩm, trong số có nhiều bài nổi tiếng. Đặc biệt nhất phải kể đến là Sang Ngang (sáng tác vào năm 1956)  và Tình Phụ. Nhạc phẩm sau anh viết vào năm 1970 sau khi chia tay với người vợ đầu tiên là Hoài Xuân. Nhạc phẩm này cũng đã được tuyển chọn vào vòng chung kết những nhạc phim hay tại tại Đại Hội Điện Ảnh Á Châu tổ chức tại Tokyo vào đầu thập niên 70. Đó là nhạc phẩm chính trong phim Sóng Tình  với diễn viên chính là Thẩm Thúy Hằng. Thêm vào đó là những nhạc phẩm tình cảm đặc sắc khác như Tan Vỡ, Tuyệt Tình, Tàn Phai, Dại Khờ, vv…

Trước năm 75, lớp dạy nhạc của anh trên đường Trương Minh Giảng từng là một nơi qui tụ nhiều học sinh nhất. Sau đo lớp nhạc của anh vẫn tiếp tục được các học sinh ghi danh rất nhiều nên anh đã có được một đời sống sung túc.. Chương trình Thời Trang nhạc tuyển của Đỗ Lễ cũng là một trong những chương trình truyền hình rất thu hút khán giả trước năm 75, cùng một lúc anh đứng ra kinh doanh về nhiều mặt hàng âm nhạc như thành lập hãng đĩa, hãng băng và xuất bản nhạc. Ngoài ra anh còn thực hiện những chương trình ca nhạc cho một số phòng trà và vũ trường ở Sài Gòn trước năm 75.

Theo kết quả giảo nghiệm về cái chết của nhạc sĩ Đỗ Lễ, được biết anh đã uống một liều thuốc Quinine quá mạnh. Người ta đã tìm thấy trong căn nhà của anh 2 lá thư tuyệt mạng, một gửi cho vợ và một gửi cho một người bạn thân…

Trả lời

Nhập nội dung bình luận
Nhập tên của bạn